HIỆP ĐỊNH
GIỮA CHÍNH PHỦ NHẬT BẢN VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CÔNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
VỀ TRÁNH ĐÁNH THUẾ HAI LẦN VÀ NGĂN NGỪA VIỆC TRỐN LẬU THUẾ ĐỐI VỚI CÁC LOẠI THUẾ ĐÁNH VÀO THU NHẬP
Chính phủ Nhật Bản và Chính phủ nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam
Mong muốn ký kết một Hiệp định về việc tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập,
Đã thỏa thuận dưới đây:
Phạm vi áp dụng.
Hiệp định này được áp dụng cho các đối tượng là những đối tượng cư trú của một hoặc của cả hai Nước ký kết.
(Dưới đây được gọi là “thuế Việt Nam”);
(iii) Các loại thuế cư trú của địa phương;
(Dưới đây được gọi là “thuế Nhật Bản).
b.Các đối tượng cùng tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát hoặc góp vốn vào một xí nghiệp của một Nước ký kết và vào một xí nghiệp của Nước ký kết kia,
Và trong cả hai trường hợp, trong mối quan hệ tài chính và thương mại giữa hai xí nghiệp trên có những điều kiện được đưa ra hoặc áp đặt khác với điều kiện được đưa ra giữa các xí nghiệp độc lập, lúc đó mọi khoản lợi tức mà một xí nghiệp có thể thu được nếu không có những điều kiện trên nhưng nay vì những điều kiện này mà xí nghiệp đó không thu được, sẽ vẫn được một Nước ký kết tính vào các khoản lợi tức của xí nghiệp đó và bị đánh thuế tương ứng.
2/ Tuy nhiên, những khoản tiền lãi cổ phần đó cũng có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết nơi công ty trả tiền lãi cổ phần là đối tượng cư trú và theo các luật của Nước đó, nhưng nếu đối tượng nhận là đối tượng thực hưởng tiền lãi cổ phần thì thuế được tính khi đó sẽ không vượt quá 10 phần trăm tổng số tiền lãi cổ phần.
Những quy định tại khoản này sẽ không ảnh hưởng tới việc đánh thuế công ty đối với khoản lợi tức được dùng để chia tiền lãi cổ phần.
6/ Những quy định tại khoản 1, 2 và 3 sẽ không áp dụng nếu đối tượng thực hưởng các khoản lãi từ tiền cho vay là đối tượng cư trú của một Nước ký kết, tiến hành hoạt động kinh doanh tại Nước ký kết kia nơi phát sinh các khoản lãi từ tiền cho vay thông qua một cơ sở thường trú nằm tại Nước kia hoặc thực hiện tại Nước kia các hoạt động dịch vụ cá nhân độc lập thông qua một cơ sở cố định nằm tại Nước kia, và khoản nợ có các khoản tiền lãi được trả có sự liên hệ thực tế với cơ sở thường trú cố định đó.
Trong trường hợp này, các quy định tại Điều 7 hoặc Điều 14, tùy từng trường hợp, sẽ được áp dụng.
Nếu đối tượng đó có một cơ sở cố định hay có mặt tại Nước ký kết kia trong một khoảng thời gian hay nhiều khoảng thời gian nói trên thu nhập của đối tượng đó có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết kia nhưng chỉ trên phần thu nhập được phân bổ cho cơ sở cố định đó hay thu nhập nhận được từ Nước ký kết kia trong một khoảng thời gian hay nhiều khoảng thời gian nói trên.
Các khoản thù lao cho giám đốc và các khoản thanh toán tương tự khác do một đối tượng cư trú của một Nước ký kết nhận được với tư cách là thành viên của ban giám đốc của một công ty là đối tượng cư trú của Nước ký kết kia có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết kia.
1/ Mặc dù có những quy định tại Điều 14 và 15, thu nhập do một cá nhân là đối tượng cư trú của một Nước ký kết nhận được với tư cách người biểu diễn như diễn viên sân khấu, điện ảnh, phát thanh hay truyền hình, hoặc nhạc công, hoặc với tư cách là vận động viên, từ những hoạt động cá nhân của mình thực hiện tại Nước ký kết kia có thể bị đánh thuế ở Nước ký kết kia.
Tuy nhiên, thu nhập này sẽ được miễn thuế ở Nước ký kết kia nếu những hoạt động như vậy được một cá nhân là đối tượng cư trú của Nước ký kết thứ nhất thực hiện theo một chương trình trao đổi văn hóa đặc biệt được thỏa thuận giữa Chính phủ của hai Nước ký kết.
2/ Trường hợp thu nhập liên quan đến các hoạt động trình diễn cá nhân được thực hiện tại một Nước ký kết của người biểu diễn hoặc vận động viên nhưng không được trả cho bản thân người biểu diễn hoặc vận động viên, mà trả cho một đối tượng khác thì thu nhập này có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết nơi diễn ra những hoạt động trình diễn của người biểu diễn hoặc vận động viên, mặc dù có những quy định tại Điều 7, 14 và 15.
Tuy nhiên, thu nhập này sẽ được miễn thuế ở Nước ký kết đó nếu thu nhập này thu được từ những hoạt động do một cá nhân là đối tượng cư trú của Nước ký kết kia thực hiện, theo một chương trình trao đổi văn hóa đặc biệt được thỏa thuận giữa Chính phủ của hai Nước ký kết và trả cho một đối tượng khác mà đối tượng này là đối tượng cư trú của Nước ký kết kia.
Thể theo các quy định tại khoản 2 Điều 19, tiền lương hưu và các khoản tiền công tương tự khác được trả cho một đối tượng cư trú của một Nước ký kết do các công việc đã làm trước đây sẽ chỉ bị đánh thuế ở Nước ký kết đó.
Những khoản tiền mà một sinh viên hay thực tập sinh nhận được để trải các chi phí sinh hoạt, học tập hay đào tạo mà sinh viên hay thực tập sinh này ngay trước khi đến một Nước ký kết đang và là người cư trú của Nước ký kết kia và hiện có mặt tại Nước thứ nhất chỉ với mục đích học tập hay đào tại, sẽ được miễn thuế tại Nước ký kết thứ nhất, với điều kiện những khoản tiền do đối tượng này nhận được có nguồn gốc từ bên ngoài Nước ký kết thứ nhất.
1/ Tại Việt Nam, việc đánh thuế hai lần sẽ được xóa bỏ như sau:
Khi một đối tượng cư trú của Việt Nam nhận được thu nhập, lợi tức hay các khoản lợi tức từ chuyển nhượng tài sản mà những khoản này, theo luật của Nhật Bản và phù hợp với Hiệp định này, có thể bị đánh thuế tại Nhật Bản, Việt Nam sẽ cho phép đối tượng đó được khấu trừ vào thuế Việt Nam tính trên thu nhập, lợi tức hay các khoản lợi tức từ chuyển nhượng tài sản một khoản tiền tương đương với số tiền thuế đã nộp tại Nhật Bản. Tuy nhiên, số tiền thuế được khấu trừ sẽ không vượt quá phần thuế Việt Nam được tính trên thu nhập, lợi tức hay các khoản lợi tức từ chuyển nhượng tài sản theo các luật và qui định thuế của Việt Nam.
5/ Những qui định của khoản 3 và 4 của Điều này sẽ không áp dụng đối với thu nhập do một đối tượng cư trú của Nhật Bản nhận được trong bất kỳ năm tính thuế sau ngày 31 tháng 10 của năm dương lịch thứ mười lăm tiếp sau năm dương lịch Hiệp định này có hiệu lực.
Theo nghĩa của Điều này, lợi tức, thu nhập hay lợi tức từ chuyển nhượng tài sản của một đối tượng cư trú của một Nước ký kết có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết kia phù hợp với Hiệp định này sẽ được coi là phát sinh từ các nguồn tại Nước kia.
2/ Thuế áp dụng đối với một cơ sở thường trú của một xí nghiệp của một Nước ký kết đặt tại Nước ký kết kia sẽ không kém thuận lợi hơn thuế áp dụng tại Nước ký kết kia đối với các xí nghiệp của Nước ký kết kia cùng thực hiện những hoạt động tương tự.
Quy định này sẽ không được giải thích là buộc một Nước ký kết phải dành cho đối tượng cư trú của Nước ký kết kia được hưởng kỳ suất miễn thu cá nhân, khoản miễn và giảm thuế nào về thân phận dân sự và trách nhiệm gia định mà nó dành cho những đối tượng cư trú của Nước mình.
Không nội dung nào trong Hiệp định này sẽ ảnh hưởng đến những ưu đãi về thuế của các viên chức ngoại giao hoặc viên chức lãnh sự theo những nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế hay những quy định trong các Hiệp định đặc biệt.
Hiệp định này sẽ tiếp tục có hiệu lực vô thời hạn nhưng từ Nước ký kết trước hoặc vào ngày ba mươi tháng 6 của bất kỳ năm dương lịch nào bắt đầu sau khi kết thúc thời hạn năm năm kể từ ngày Hiệp định này có hiệu lực, có thể gửi cho Nước ký kết kia thông qua đường ngoại giao văn bản thông báo kết thúc Hiệp định và, trong trường hợp như vậy, Hiệp định này sẽ hết hiệu lực thi hành.
a.Tại Việt Nam:
(i) Đối với các khoản thuế khấu trừ tại nguồn, thu trên các khoản thu nhập chịu thuế được chi trả vào ngày hoặc sau ngày 1 tháng 1 của năm dương lịch tiếp sau năm gửi thông báo kết thúc Hiệp định.
(ii) Đối với các loại thuế khác thu trên thu nhập, lợi tức hay lợi tức chuyển nhượng tài sản phát sinh trong bất kỳ năm tính thuế nào bắt đầu vào ngày hoặc sau ngày 1 tháng 1 của năm dương lịch tiếp sau năm gửi thông báo kết thúc Hiệp định.
b.Tại Nhật Bản:
(i) Đối với các khoản thuế khấu trừ tại nguồn, thu trên các khoản thu nhập chịu thuế được chi trả vào ngày hoặc sau ngày 1 tháng 1 của năm dương lịch sau năm gửi thông báo kết thúc Hiệp định;
(ii) Đối với các loại thuế thu trên thu nhập nhưng không được khấu trừ tại nguồn, được coi như là thu nhập trong bất kỳ năm tính thuế nào bắt đầu vào ngày hoặc sau ngày 1 tháng 1 của năm dương lịch tiếp sau năm gửi thông báo kết thúc Hiệp định;
(iii) Đối với các loại thuế khác được coi như là thuế trong bất kỳ năm tính thuế nào bắt đầu vào ngày hoặc sau ngày 1 tháng 1 của năm dương lịch tiếp sau năm gửi thông báo kết thúc Hiệp định.
Để làm bằng những người được ủy quyền của từng Chính phủ dưới đây đã ký vào Hiệp định này.
Hiệp định làm thành hai bản tại Hà Nội, ngày 24 tháng 10 năm 1995, mỗi bản gồm các thứ tiếng Nhật, tiếng Việt và tiếng Anh, tất cả các văn bản đều có giá trị ngang nhau. Trường hợp có sự giải thích khác nhau, bản tiếng Anh sẽ có giá trị quyết định./.
|
THAY MẶT CHÍNH PHỦ |
THAY MẶT CHÍNH PHỦ |
Văn bản này có phụ lục. Bản hiển thị chưa bao gồm phần phụ lục.