Chuyển đến nội dung chính
Xuất nhập khẩu và hải quan

Mang bao nhiêu USD, ngoại tệ hoặc tiền Việt khi xuất cảnh, nhập cảnh thì phải khai báo hải quan?

Rà soát 20/10/20261 văn bản căn cứ4 đoạn trích nguyên văn

Trả lời nhanh

Cá nhân xuất cảnh, nhập cảnh bằng hộ chiếu qua cửa khẩu quốc tế phải khai báo Hải quan cửa khẩu khi mang ngoại tệ tiền mặt trên 5.000 đô la Mỹ (USD) hoặc ngoại tệ khác tương đương, hoặc tiền Việt Nam tiền mặt trên 15.000.000 đồng, theo Điều 2 Thông tư 15/2011/TT-NHNN.

Chi tiết

Người nhập cảnh mang ngoại tệ từ 5.000 USD trở xuống nhưng có nhu cầu gửi vào tài khoản thanh toán bằng ngoại tệ của mình tại tổ chức tín dụng được phép cũng phải khai báo. Ngưỡng tiền mặt này không áp dụng với séc du lịch, thẻ ngân hàng, sổ tiết kiệm, chứng khoán và giấy tờ có giá khác.

Khi xuất cảnh mang vượt mức quy định hoặc vượt số đã khai khi nhập cảnh lần gần nhất, người xuất cảnh phải xuất trình giấy xác nhận của tổ chức tín dụng được phép hoặc văn bản chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước, theo Điều 3 Thông tư 15/2011/TT-NHNN. Nếu mang ra không quá số đã khai khi nhập cảnh lần gần nhất thì chỉ cần xuất trình tờ khai có xác nhận hải quan. Tờ khai này có giá trị cho lần xuất cảnh tiếp theo trong 12 tháng kể từ ngày ghi trên tờ khai.

Trích nguyên văn điều luật

Khoản 1 Điều 2, 15/2011/TT-NHNN
“Cá nhân khi xuất cảnh, nhập cảnh qua các cửa khẩu quốc tế của Việt Nam bằng hộ chiếu mang theo ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt trên mức quy định dưới đây phải khai báo Hải quan cửa khẩu: a)5.000 USD (Năm nghìn Đôla Mỹ) hoặc các loại ngoại tệ khác có giá trị tương đương; b)15.000.000 VNĐ (Mười lăm triệu đồng Việt Nam).”
Khoản 2, khoản 3 Điều 2, 15/2011/TT-NHNN
“Trường hợp cá nhân nhập cảnh mang theo ngoại tệ tiền mặt bằng hoặc thấp hơn mức 5.000 USD hoặc các loại ngoại tệ khác có giá trị tương đương và có nhu cầu gửi số ngoại tệ tiền mặt này vào tài khoản thanh toán bằng ngoại tệ của cá nhân mở tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép hoạt động ngoại hối (sau đây gọi chung là tổ chức tín dụng được phép), cũng phải khai báo Hải quan cửa khẩu. ... không áp dụng đối với những cá nhân mang theo các loại phương tiện thanh toán, giấy tờ có giá bằng ngoại tệ hoặc bằng đồng Việt Nam như séc du lịch, thẻ ngân hàng, sổ tiết kiệm, các loại chứng khoán và các loại giấy tờ có giá khác.”
Khoản 1 Điều 3, 15/2011/TT-NHNN
“Cá nhân xuất cảnh mang theo ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt vượt mức quy định tại Khoản 1 Điều 2 của Thông tư này hoặc vượt số mang vào đã khai báo Hải quan cửa khẩu khi nhập cảnh lần gần nhất, phải xuất trình cho Hải quan cửa khẩu: a)Giấy xác nhận mang ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt ra nước ngoài (sau đây gọi là Giấy xác nhận) do tổ chức tín dụng được phép cấp phù hợp với quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối; hoặc b)Văn bản chấp thuận cho cá nhân mang ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt ra nước ngoài do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp.”
Khoản 2 Điều 3, 15/2011/TT-NHNN
“Cá nhân xuất cảnh mang theo ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt vượt mức quy định tại khoản 1 Điều 2 của Thông tư này, nhưng không vượt quá số lượng đã mang vào phải xuất trình cho Hải quan cửa khẩu Tờ khai nhập cảnh - xuất cảnh có xác nhận của Hải quan cửa khẩu về số ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt đã mang vào khi nhập cảnh lần gần nhất, không cần phải có Giấy xác nhận của tổ chức tín dụng được phép. ... chỉ có giá trị cho cá nhân mang ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt ra nước ngoài khi xuất cảnh lần tiếp theo trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày ghi trên Tờ khai nhập cảnh - xuất cảnh.”

Chưa tìm thấy câu trả lời?

Tìm văn bản pháp luật theo từ khoá để đối chiếu với tình huống đang gặp.