Quyền tác giả được bảo hộ trong bao lâu? Hết thời hạn thì ai cũng được dùng tác phẩm phải không?
Rà soát 20/10/20261 văn bản căn cứ4 đoạn trích nguyên văn
Trả lời nhanh
Quyền tác giả có thời hạn bảo hộ khác nhau tùy loại quyền và loại tác phẩm. Hết thời hạn, mọi tổ chức, cá nhân được sử dụng tác phẩm nhưng vẫn phải tôn trọng quyền nhân thân của tác giả và pháp luật liên quan, theo Điều 27 và Điều 43 Luật Sở hữu trí tuệ (văn bản hợp nhất 67/VBHN-VPQH).
Chi tiết
Quyền đặt tên, đứng tên, được nêu tên và bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm tại khoản 1, 2, 4 Điều 19 được bảo hộ vô thời hạn. Quyền công bố tại khoản 3 Điều 19 và quyền tài sản có thời hạn theo khoản 2 Điều 27:
- Tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh: 75 năm kể từ lần công bố đầu tiên. Tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng chưa công bố trong 25 năm kể từ khi định hình thì được bảo hộ 100 năm kể từ khi định hình.
- Tác phẩm còn lại: suốt đời tác giả và 50 năm tiếp theo năm tác giả chết. Tác phẩm có đồng tác giả thì thời hạn chấm dứt vào năm thứ 50 sau năm đồng tác giả cuối cùng chết.
Tác phẩm khuyết danh khi xuất hiện thông tin tác giả thì chuyển sang cách tính của nhóm tác phẩm còn lại. Thời hạn kết thúc lúc 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm chấm dứt. Tác phẩm hết thời hạn này thuộc về công chúng theo Điều 43.
Trích nguyên văn điều luật
“Đặt tên cho tác phẩm. ... Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; 3.Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm; 4.Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm không cho người khác xuyên tạc; không cho người khác sửa đổi, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.”
“Quyền nhân thân quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều 19 của Luật này được bảo hộ vô thời hạn. ... Quyền nhân thân quy định tại khoản 3 Điều 19 và quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật này có thời hạn bảo hộ như sau: a)Tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh có thời hạn bảo hộ là bảy mươi lăm năm, kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên; đối với tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng chưa được công bố trong thời hạn hai mươi lăm năm, kể từ khi tác phẩm được định hình thì thời hạn bảo hộ là một trăm năm, kể từ khi tác phẩm được định hình; đối với tác phẩm khuyết danh, khi các thông tin về tác giả xuất hiện thì thời hạn bảo hộ được tính theo quy định tại điểm b khoản này;”
“Tác phẩm không thuộc loại hình quy định tại điểm a khoản này có thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và năm mươi năm tiếp theo năm tác giả chết; trường hợp tác phẩm có đồng tác giả thì thời hạn bảo hộ chấm dứt vào năm thứ năm mươi sau năm đồng tác giả cuối cùng chết; ... Thời hạn bảo hộ quy định tại điểm a và điểm b khoản này chấm dứt vào thời điểm 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm chấm dứt thời hạn bảo hộ quyền tác giả.”
“Tác phẩm đã kết thúc thời hạn bảo hộ theo quy định tại khoản 2 Điều 27 của Luật này và cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng đã kết thúc thời hạn bảo hộ theo quy định tại Điều 34 của Luật này thì thuộc về công chúng. 2.Mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền sử dụng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng quy định tại khoản 1 Điều này nhưng phải tôn trọng các quyền nhân thân của tác giả, người biểu diễn quy định tại Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.”