Yêu cầu công ty, ứng dụng xóa dữ liệu cá nhân thì phải xóa trong bao lâu? Khi nào được từ chối?
Rà soát 20/10/20262 văn bản căn cứ4 đoạn trích nguyên văn
Trả lời nhanh
Yêu cầu xóa dữ liệu cá nhân đúng thủ tục phải được phản hồi trong 02 ngày làm việc và thực hiện trong 20 ngày, theo khoản 4 Điều 5 Nghị định 356/2025/NĐ-CP. Nghĩa vụ này thuộc bên kiểm soát dữ liệu cá nhân, bên kiểm soát và xử lý dữ liệu cá nhân.
Chi tiết
Nếu cần yêu cầu bên xử lý dữ liệu, bên thứ ba thực hiện thì thời hạn là 30 ngày. Tùy mức độ phức tạp của yêu cầu, thời hạn có thể gia hạn tối đa 01 lần, không quá 20 ngày; bên kiểm soát phải thông báo lý do và chứng minh việc gia hạn là cần thiết, hợp lý.
Theo Điều 4 và khoản 1 Điều 14 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 91/2025/QH15, chủ thể dữ liệu có quyền yêu cầu xóa nhưng phải chấp nhận rủi ro, thiệt hại có thể xảy ra và tuân thủ các nguyên tắc luật định.
Theo khoản 2 Điều 14, không thực hiện yêu cầu xóa nếu thuộc trường hợp tại Điều 19 hoặc việc xóa vi phạm khoản 3 Điều 4. Điều 19 gồm cả các trường hợp sau:
- bảo vệ tính mạng, sức khỏe, quyền lợi trong trường hợp cấp bách;
- tình trạng khẩn cấp, phòng chống tội phạm;
- phục vụ hoạt động của cơ quan nhà nước;
- thực hiện thỏa thuận theo quy định của pháp luật.
Nếu không thể xóa vì lý do chính đáng, bên kiểm soát phải thông báo cho chủ thể dữ liệu, theo khoản 5 Điều 14.
Trích nguyên văn điều luật
“Khi nhận được yêu cầu xóa dữ liệu cá nhân theo đúng thủ tục của chủ thể dữ liệu cá nhân, bên kiểm soát dữ liệu cá nhân, bên kiểm soát và xử lý dữ liệu cá nhân phải phản hồi trong thời hạn 02 ngày làm việc, cung cấp đầy đủ thông tin cho chủ thể dữ liệu cá nhân về thủ tục và thực hiện trong thời hạn 20 ngày. Trường hợp cần yêu cầu bên xử lý dữ liệu cá nhân, bên thứ ba cung cấp, xóa, hạn chế xử lý dữ liệu của chủ thể dữ liệu cá nhân thì thực hiện trong thời hạn 30 ngày. ... Tùy theo tính chất, mức độ phức tạp của yêu cầu, trường hợp cần gia hạn thời gian xử lý thì kéo dài thêm tối đa 01 lần gia hạn trong thời hạn không quá 20 ngày, bên kiểm soát dữ liệu cá nhân, bên kiểm soát và xử lý dữ liệu cá nhân thông báo cho chủ thể dữ liệu cá nhân lý do cần gia hạn và chịu trách nhiệm chứng minh việc gia hạn là cần thiết, hợp lý.”
“Chủ thể dữ liệu cá nhân có yêu cầu và chấp nhận các rủi ro, thiệt hại có thể xảy ra đối với mình. Yêu cầu của chủ thể dữ liệu cá nhân trong trường hợp này phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc quy định tại khoản 3 Điều 4 của Luật này; ... Không thực hiện yêu cầu của chủ thể dữ liệu cá nhân về việc xóa, hủy dữ liệu cá nhân trong các trường hợp quy định tại Điều 19 của Luật này hoặc việc xóa, hủy dữ liệu cá nhân vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 4 của Luật này. ... Trường hợp không thể xóa, hủy dữ liệu cá nhân vì lý do chính đáng sau khi nhận được yêu cầu của chủ thể dữ liệu cá nhân, bên kiểm soát dữ liệu cá nhân, bên kiểm soát và xử lý dữ liệu cá nhân phải thông báo để chủ thể dữ liệu cá nhân biết.”
“Các trường hợp xử lý dữ liệu cá nhân không cần sự đồng ý của chủ thể dữ liệu cá nhân bao gồm: a)Để bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể dữ liệu cá nhân hoặc người khác trong trường hợp cấp bách; ... b)Để giải quyết tình trạng khẩn cấp; nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia nhưng chưa đến mức ban bố tình trạng khẩn cấp; phòng, chống bạo loạn, khủng bố, phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật; c)Phục vụ hoạt động của cơ quan nhà nước, hoạt động quản lý nhà nước theo quy định của pháp luật; d)Thực hiện thỏa thuận của chủ thể dữ liệu cá nhân với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định của pháp luật;”
“Chủ thể dữ liệu cá nhân khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc sau đây: a)Thực hiện theo quy định của pháp luật; tuân thủ nghĩa vụ của chủ thể dữ liệu cá nhân theo hợp đồng. ... b)Không được gây khó khăn, cản trở việc thực hiện quyền, nghĩa vụ pháp lý của bên kiểm soát dữ liệu cá nhân, bên kiểm soát và xử lý dữ liệu cá nhân, bên xử lý dữ liệu cá nhân; c)Không được xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác.”