Chuyển đến nội dung chính
Tư pháp và hộ tịch

Bản sao chứng thực có thời hạn sử dụng không? Có phải 6 tháng là hết giá trị?

Rà soát 20/10/20262 văn bản căn cứ3 đoạn trích nguyên văn

Trả lời nhanh

Nghị định 23/2015/NĐ-CP không đặt thời hạn sử dụng cho bản sao chứng thực, do đó không có quy tắc chung 6 tháng. Tuy nhiên, thủ tục cụ thể do pháp luật chuyên ngành quy định có thể yêu cầu giấy tờ được cấp hoặc chứng thực trong một thời hạn nhất định.

Chi tiết

Bản sao chứng thực từ bản chính có giá trị thay bản chính đã dùng để đối chiếu trong giao dịch, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (khoản 2 Điều 3).

Trách nhiệm của nơi tiếp nhận theo Điều 6, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 280/2025/NĐ-CP:

  • Pháp luật chỉ yêu cầu bản sao: cơ quan tiếp nhận không được đòi bản sao có chứng thực; chỉ được yêu cầu bản chính hoặc bản sao từ sổ gốc để đối chiếu, hoặc xác minh khi có căn cứ bản sao giả mạo, bất hợp pháp.
  • Pháp luật yêu cầu bản sao từ sổ gốc hoặc bản sao có chứng thực: không được yêu cầu xuất trình bản chính, trừ khi có căn cứ giả mạo.
  • Pháp luật quy định giấy tờ được cấp dưới dạng bản điện tử: phải tiếp nhận, sử dụng bản điện tử, không được yêu cầu bản giấy hoặc bản sao có chứng thực; trừ trường hợp có căn cứ cho rằng bản điện tử giả mạo, bất hợp pháp thì phải xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

Chứng thực bản sao không phụ thuộc nơi cư trú và có thể thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc tổ chức hành nghề công chứng (Điều 5).

Trích nguyên văn điều luật

Khoản 2 Điều 3, 23/2015/NĐ-CP
“Bản sao được chứng thực từ bản chính theo quy định tại Nghị định này có giá trị sử dụng thay cho bản chính đã dùng để đối chiếu chứng thực trong các giao dịch, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”
Khoản 3 Điều 1 (sửa đổi Điều 6 Nghị định 23/2015/NĐ-CP), 280/2025/NĐ-CP
“1.Trường hợp pháp luật quy định nộp bản sao thì cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận bản sao không được yêu cầu xuất trình bản sao có chứng thực, chỉ có quyền yêu cầu xuất trình bản chính hoặc bản sao từ sổ gốc để đối chiếu hoặc tiến hành xác minh khi có căn cứ về việc bản sao giả mạo, bất hợp pháp. 2.Trường hợp pháp luật quy định nộp bản sao từ sổ gốc hoặc bản sao có chứng thực thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận không được yêu cầu xuất trình bản chính, trừ trường hợp có căn cứ về việc bản sao giả mạo, bất hợp pháp thì yêu cầu xuất trình bản chính để đối chiếu hoặc tiến hành xác minh nếu thấy cần thiết. 3.Trường hợp pháp luật quy định giấy tờ, tài liệu được cấp dưới dạng bản điện tử thì cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận, sử dụng bản điện tử đó, không được yêu cầu nộp bản giấy hoặc bản sao có chứng thực; trừ trường hợp có căn cứ cho rằng bản điện tử giả mạo, bất hợp pháp thì phải xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo cơ quan có thẩm quyền giải quyết.”
Khoản 2 Điều 1 (sửa đổi Điều 5 Nghị định 23/2015/NĐ-CP): khoản 1, khoản 4, điểm a khoản 5, 280/2025/NĐ-CP
“1.Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền và trách nhiệm: a)Chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của Việt Nam; cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài; cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của Việt Nam liên kết với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài cấp hoặc chứng nhận; ... 4.Công chứng viên có thẩm quyền và trách nhiệm chứng thực các việc quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều này, ký chứng thực và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng. 5.Việc chứng thực không phụ thuộc vào nơi cư trú của người yêu cầu chứng thực thực hiện trong các trường hợp sau đây: a)Chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký;”

Chưa tìm thấy câu trả lời?

Tìm văn bản pháp luật theo từ khoá để đối chiếu với tình huống đang gặp.