Chuyển đến nội dung chính
Tư pháp và hộ tịch

Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị trong bao lâu?

Rà soát 20/10/20262 văn bản căn cứ5 đoạn trích nguyên văn

Trả lời nhanh

Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị 6 tháng kể từ ngày cấp, theo khoản 1 Điều 23 Nghị định 123/2015/NĐ-CP. Giấy không có giá trị khi dùng vào mục đích khác với mục đích ghi trong giấy (khoản 3 Điều này).

Chi tiết

Giấy được dùng để kết hôn tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài hoặc dùng vào mục đích khác, theo khoản 2 Điều 23 được sửa bởi khoản 7 Điều 2 Nghị định 07/2025/NĐ-CP.

Khi đăng ký kết hôn trong nước, cơ quan đăng ký hộ tịch tra cứu thông tin tình trạng hôn nhân trên cơ sở dữ liệu, theo khoản 5 Điều 3 Nghị định 123/2015/NĐ-CP, được bổ sung bởi điểm c khoản 3 Điều 2 Nghị định 07/2025/NĐ-CP. Nếu không tra cứu được do chưa có thông tin trong cơ sở dữ liệu, cơ quan đăng ký hộ tịch đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người yêu cầu thường trú hoặc nơi đã đăng ký kết hôn xác minh, cung cấp thông tin.

Giấy do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú cấp; người không có nơi thường trú thì nơi tạm trú cấp (khoản 1 Điều 21). Khi xin cấp lại vì giấy hết hạn hoặc để dùng vào mục đích khác, người yêu cầu phải nộp lại giấy đã cấp (khoản 6 Điều 22).

Trích nguyên văn điều luật

Khoản 1, khoản 3 Điều 23, 123/2015/NĐ-CP
“Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị 6 tháng kể từ ngày cấp. ... 3.Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân không có giá trị khi sử dụng vào mục đích khác với mục đích ghi trong Giấy xác nhận.”
Khoản 7 Điều 2, 07/2025/NĐ-CP
“Sửa đổi khoản 2 Điều 23 như sau: “2. Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được sử dụng để kết hôn tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài hoặc sử dụng vào mục đích khác.”.”
Khoản 1 Điều 21, 123/2015/NĐ-CP
“Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của công dân Việt Nam thực hiện việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Trường hợp công dân Việt Nam không có nơi thường trú, nhưng có đăng ký tạm trú theo quy định của pháp luật về cư trú thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi người đó đăng ký tạm trú cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.”
Khoản 6 Điều 22, 123/2015/NĐ-CP
“Trường hợp cá nhân yêu cầu cấp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để sử dụng vào mục đích khác hoặc do Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã hết thời hạn sử dụng theo quy định tại Điều 23 của Nghị định này, thì phải nộp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã được cấp trước đó.”
Điểm c khoản 3 Điều 2, 07/2025/NĐ-CP
“Đối với yêu cầu đăng ký kết hôn, cơ quan đăng ký hộ tịch tra cứu thông tin về tình trạng hôn nhân của người yêu cầu đăng ký kết hôn trên Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp tỉnh thông qua kết nối với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. ... Trường hợp không tra cứu được tình trạng hôn nhân do chưa có thông tin trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, thì cơ quan đăng ký hộ tịch đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người yêu cầu thường trú/nơi đã đăng ký kết hôn xác minh, cung cấp thông tin.”

Chưa tìm thấy câu trả lời?

Tìm văn bản pháp luật theo từ khoá để đối chiếu với tình huống đang gặp.