Vay tiền quá hạn không trả thì phải chịu lãi chậm trả thế nào?
Rà soát 20/10/20261 văn bản căn cứ3 đoạn trích nguyên văn
Trả lời nhanh
Lãi vay quá hạn được xác định tùy khoản vay không có lãi hay có lãi, theo Điều 466 Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13.
Chi tiết
Vay không có lãi mà đến hạn không trả hoặc trả không đủ: bên cho vay có quyền yêu cầu lãi trên số tiền chậm trả tương ứng thời gian chậm trả theo khoản 2 Điều 468, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác (khoản 4 Điều 466). Mức này bằng 50% mức lãi suất giới hạn tại thời điểm trả nợ.
Vay có lãi mà đến hạn không trả hoặc trả không đủ, bên vay phải trả theo khoản 5 Điều 466:
- Lãi trên nợ gốc theo thỏa thuận tương ứng thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 (điểm a).
- Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác (điểm b).
Khoản 1 Điều 468 giới hạn lãi suất theo thỏa thuận ở 20%/năm, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Lãi chậm trả do các bên thỏa thuận cũng không được vượt giới hạn tại khoản 1 Điều 468, theo khoản 2 Điều 357. Điểm b khoản 5 Điều 466 không nói rõ mức 150% có bị giới hạn bởi 20%/năm hay không.
Trích nguyên văn điều luật
“Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc luật có quy định khác. 5.Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau: a)Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này; b)Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác.”
“Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. ... 2.Trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.”
“Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này.”