Người lao động được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi nào?
Rà soát 16/10/20261 văn bản căn cứ3 đoạn trích nguyên văn
Trả lời nhanh
Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần lý do nếu báo trước đúng thời hạn, hoặc không cần báo trước trong một số trường hợp, theo Điều 35 Bộ luật Lao động 45/2019/QH14.
Chi tiết
Thời hạn báo trước ít nhất theo khoản 1 Điều 35 như sau.
- 45 ngày: hợp đồng lao động không xác định thời hạn.
- 30 ngày: hợp đồng lao động xác định thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng.
- 3 ngày làm việc: hợp đồng lao động xác định thời hạn dưới 12 tháng.
- Ngành, nghề, công việc đặc thù: theo quy định của Chính phủ.
Người lao động được nghỉ không cần báo trước khi rơi vào một trong các trường hợp sau.
- Không được bố trí đúng công việc, địa điểm hoặc điều kiện làm việc đã thỏa thuận.
- Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng hạn.
- Bị ngược đãi, cưỡng bức lao động hoặc bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc.
- Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo khoản 1 Điều 138, khi có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền rằng tiếp tục làm việc ảnh hưởng xấu tới thai nhi.
- Đủ tuổi nghỉ hưu, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
- Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng.
Một số trường hợp trên có ngoại lệ riêng tại Điều 35.
Trích nguyên văn điều luật
“Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động như sau: a)Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn; b)Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng; c)Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng; d)Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.”
“Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước trong trường hợp sau đây: a)Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này; b)Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 của Bộ luật này; c)Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động; d)Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc; đ)Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này; e)Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác; g)Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.”
“Lao động nữ mang thai nếu có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi thì có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động.”