Ly hôn chia tài sản chung như thế nào? Có phải lúc nào cũng chia đôi không?
Rà soát 20/10/20262 văn bản căn cứ4 đoạn trích nguyên văn
Trả lời nhanh
Không. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến một số yếu tố, vì vậy phần mỗi bên nhận không phải lúc nào cũng bằng nhau, theo khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 52/2014/QH13. Các yếu tố đó gồm:
Chi tiết
- Hoàn cảnh của gia đình và của mỗi bên.
- Công sức đóng góp của vợ, chồng.
- Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp.
- Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
Theo Điều 7 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, người ở nhà chăm sóc con, gia đình được tính là lao động có thu nhập tương đương người đi làm; bên đóng góp nhiều hơn được chia nhiều hơn.
Cách chia còn phụ thuộc chế độ tài sản (khoản 1 Điều 59). Với chế độ tài sản luật định, các bên tự thỏa thuận; không thỏa thuận được thì Tòa án giải quyết theo yêu cầu. Với chế độ tài sản theo thỏa thuận, áp dụng thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng các quy tắc luật định.
Tài sản chung được chia bằng hiện vật; không chia được thì chia theo giá trị. Bên nhận hiện vật vượt phần mình được hưởng phải thanh toán phần chênh lệch cho bên kia (khoản 3). Tài sản riêng thuộc về người đó, trừ trường hợp đã nhập vào tài sản chung (khoản 4).
Các Điều 61, 62, 63, 64 Luật Hôn nhân và gia đình có quy định riêng về tài sản của vợ chồng sống chung với gia đình, quyền sử dụng đất, quyền lưu cư đối với nhà ở thuộc sở hữu riêng và tài sản chung đưa vào kinh doanh.
Trích nguyên văn điều luật
“2.Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây: a)Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; b)Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập; c)Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập; d)Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.”
“3.Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch. 4.Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.”
“b)“Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung” là sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm. Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn.”
“Nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng đã đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn vẫn thuộc sở hữu riêng của người đó; trường hợp vợ hoặc chồng có khó khăn về chỗ ở thì được quyền lưu cư trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.”