Thỏa thuận tài sản trước hôn nhân có hợp pháp không? Phải lập thế nào và khi nào thì bị vô hiệu?
Rà soát 20/10/20262 văn bản căn cứ5 đoạn trích nguyên văn
Trả lời nhanh
Có. Thỏa thuận chế độ tài sản trước hôn nhân được pháp luật cho phép; thỏa thuận phải lập trước khi kết hôn bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, có hiệu lực từ ngày đăng ký kết hôn, theo Điều 47 Luật Hôn nhân và gia đình 52/2014/QH13.
Chi tiết
Nội dung cơ bản của thỏa thuận gồm (Điều 48):
- tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng;
- quyền, nghĩa vụ đối với tài sản và giao dịch liên quan; tài sản bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình;
- điều kiện, thủ tục, nguyên tắc chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản;
- nội dung khác có liên quan.
Tòa án tuyên bố thỏa thuận vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp (Điều 50):
- không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch;
- vi phạm các Điều 29, 30, 31, 32 của Luật Hôn nhân và gia đình (quy định áp dụng cho mọi chế độ tài sản);
- vi phạm nghiêm trọng quyền cấp dưỡng, thừa kế, quyền và lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con, thành viên gia đình.
Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có thể sửa đổi, bổ sung thỏa thuận; văn bản sửa đổi phải được công chứng hoặc chứng thực, theo Điều 49 Luật Hôn nhân và gia đình và Điều 17 Nghị định 126/2014/NĐ-CP.
Khi ly hôn, tài sản được chia theo thỏa thuận; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng các quy tắc luật định (khoản 1 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình).
Trích nguyên văn điều luật
“Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn.”
“1.Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a)Không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan; b)Vi phạm một trong các quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này; c)Nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình.”
“1.Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được áp dụng thì trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận sửa đổi, bổ sung một phần hoặc toàn bộ nội dung của chế độ tài sản đó hoặc áp dụng chế độ tài sản theo luật định. 2.Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung nội dung của chế độ tài sản của vợ chồng phải được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật.”
“Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.”
“1.Nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản bao gồm: a)Tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng; b)Quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và giao dịch có liên quan; tài sản để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình; c)Điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản; d)Nội dung khác có liên quan.”