Chuyển đến nội dung chính
Ngoại giao

Người đã mất quốc tịch Việt Nam muốn xin trở lại quốc tịch cần điều kiện gì, có được giữ quốc tịch nước ngoài không?

Rà soát 20/10/20262 văn bản căn cứ5 đoạn trích nguyên văn

Trả lời nhanh

Người đã mất quốc tịch Việt Nam có đơn xin trở lại thì được xem xét giải quyết trở lại quốc tịch; có thể giữ quốc tịch nước ngoài nếu đủ điều kiện và được Chủ tịch nước cho phép, theo khoản 8 Điều 1 Luật 79/2025/QH15.

Chi tiết

Người xin trở lại phải lấy lại tên gọi Việt Nam trước đây; nếu đồng thời xin giữ quốc tịch nước ngoài thì có thể chọn tên ghép. Việc giữ quốc tịch nước ngoài phải phù hợp pháp luật nước đó và người xin không sử dụng quốc tịch nước ngoài để gây phương hại.

Theo Điều 23 Luật Quốc tịch Việt Nam 24/2008/QH12, người xin trở lại không được trở lại nếu việc đó làm phương hại lợi ích quốc gia. Người bị tước quốc tịch phải sau ít nhất 5 năm kể từ ngày bị tước mới được xem xét.

Giấy tờ lý lịch tư pháp nước ngoài trong hồ sơ phải được cấp không quá 90 ngày tính đến ngày nộp hồ sơ (khoản 9 Điều 1 Luật 79). Bộ Tư pháp thông báo để người xin làm thủ tục thôi quốc tịch nước ngoài, trừ trường hợp xin giữ quốc tịch nước ngoài hoặc là người không quốc tịch (khoản 10 Điều 1 Luật 79).

Trích nguyên văn điều luật

Khoản 8 Điều 1 (sửa khoản 1, khoản 5 Điều 23 Luật Quốc tịch Việt Nam), 79/2025/QH15
“Người đã mất quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 26 của Luật này có đơn xin trở lại quốc tịch Việt Nam thì được xem xét giải quyết trở lại quốc tịch Việt Nam. ... Người xin trở lại quốc tịch Việt Nam được giữ quốc tịch nước ngoài nếu đáp ứng các điều kiện sau đây và được Chủ tịch nước cho phép: a)Việc giữ quốc tịch nước ngoài phù hợp với pháp luật của nước đó; b)Không sử dụng quốc tịch nước ngoài để gây phương hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, xâm hại an ninh, lợi ích quốc gia, trật tự, an toàn xã hội của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”
Khoản 2, khoản 3 Điều 23, 24/2008/QH12
“Người xin trở lại quốc tịch Việt Nam không được trở lại quốc tịch Việt Nam, nếu việc đó làm phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt Nam. 3.Trường hợp người bị tước quốc tịch Việt Nam xin trở lại quốc tịch Việt Nam thì phải sau ít nhất 5 năm, kể từ ngày bị tước quốc tịch mới được xem xét cho trở lại quốc tịch Việt Nam.”
Khoản 9 Điều 1 (sửa điểm d khoản 1 Điều 24 Luật Quốc tịch Việt Nam), 79/2025/QH15
“d) Giấy tờ chứng minh thông tin lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp phù hợp với pháp luật của nước đó đối với thời gian người xin trở lại quốc tịch Việt Nam cư trú ở nước ngoài. Giấy tờ chứng minh thông tin lý lịch tư pháp được cấp không quá 90 ngày tính đến ngày nộp hồ sơ;”
Khoản 10 Điều 1 (sửa khoản 4 Điều 25 Luật Quốc tịch Việt Nam), 79/2025/QH15
“Bộ Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra lại hồ sơ, nếu xét thấy người xin trở lại quốc tịch Việt Nam có đủ điều kiện được trở lại quốc tịch Việt Nam thì gửi thông báo bằng văn bản cho người đó để làm thủ tục xin thôi quốc tịch nước ngoài, trừ trường hợp người xin trở lại quốc tịch Việt Nam xin giữ quốc tịch nước ngoài hoặc là người không quốc tịch.”
Khoản 8 Điều 1 (sửa khoản 4 Điều 23 Luật Quốc tịch Việt Nam), 79/2025/QH15
“Người xin trở lại quốc tịch Việt Nam phải lấy lại tên gọi Việt Nam trước đây. Trường hợp người xin trở lại quốc tịch Việt Nam đồng thời xin giữ quốc tịch nước ngoài thì có thể lựa chọn tên ghép giữa tên Việt Nam và tên nước ngoài.”

Chưa tìm thấy câu trả lời?

Tìm văn bản pháp luật theo từ khoá để đối chiếu với tình huống đang gặp.