Chuyển đến nội dung chính
Ngoại giao

Người Việt định cư ở nước ngoài đã nhập quốc tịch nước khác thì có còn quốc tịch Việt Nam không?

Rà soát 20/10/20264 văn bản căn cứ6 đoạn trích nguyên văn

Trả lời nhanh

Nhập quốc tịch nước ngoài không phải căn cứ tự động mất quốc tịch Việt Nam theo Điều 26 Luật Quốc tịch Việt Nam 24/2008/QH12. Theo khoản 3 Điều 1 Luật 79/2025/QH15, người Việt Nam định cư ở nước ngoài chưa mất quốc tịch Việt Nam theo pháp luật Việt Nam trước ngày Luật có hiệu lực thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam.

Chi tiết

Điều 1 Luật 56/2014/QH13 bỏ căn cứ mất quốc tịch do không đăng ký giữ; khoản 11 Điều 1 Luật 79/2025/QH15 thêm căn cứ mất quốc tịch là bị hủy bỏ quyết định cho nhập, trở lại quốc tịch.

Điều 5 Luật Quốc tịch (sửa bởi khoản 1 Điều 1 Luật 79/2025/QH15) quy định:

  • Trên lãnh thổ Việt Nam, Nhà nước chỉ công nhận quốc tịch Việt Nam trong quan hệ với cơ quan có thẩm quyền Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế quy định khác.
  • Người giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận, tổ chức chính trị-xã hội, người làm cơ yếu, người tham gia lực lượng vũ trang chỉ được có quốc tịch Việt Nam và phải thường trú tại Việt Nam.
  • Công chức, viên chức cũng chỉ được có quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp có lợi cho Nhà nước, không phương hại lợi ích quốc gia và phải thường trú tại Việt Nam.

Người thiếu giấy tờ chứng minh có thể xin Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam tại Sở Tư pháp hoặc cơ quan đại diện ở nước ngoài nơi cư trú (Điều 29 Nghị định 191/2025/NĐ-CP). Trên đây là theo pháp luật Việt Nam; luật nước nhập quốc tịch có thể khác.

Trích nguyên văn điều luật

Điều 26, 24/2008/QH12
“Được thôi quốc tịch Việt Nam. 2.Bị tước quốc tịch Việt Nam. 3.Không đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam theo quy định tại khoản 2 Điều 13 của Luật này. 4.Theo quy định tại khoản 2 Điều 18 và Điều 35 của Luật này. 5.Theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.”
Khoản 2 Điều 1, 56/2014/QH13
“Bãi bỏ Khoản 3 Điều 26.”
Khoản 1, khoản 3 Điều 1 (sửa Điều 5, Điều 13 Luật Quốc tịch Việt Nam), 79/2025/QH15
“Trên lãnh thổ Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ công nhận quốc tịch Việt Nam đối với công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài trong quan hệ với cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác. ... Công chức, viên chức không thuộc quy định tại khoản 5 Điều này phải là người chỉ có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, không làm phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt Nam và phải thường trú tại Việt Nam. ... Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam.”
Điều 29, 191/2025/NĐ-CP
“Sở Tư pháp hoặc cơ quan đại diện, nơi người yêu cầu cấp Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam cư trú vào thời điểm nộp hồ sơ có thẩm quyền cấp Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam.”
Khoản 1 Điều 1 (sửa khoản 5 Điều 5 Luật Quốc tịch Việt Nam), 79/2025/QH15
“Người ứng cử, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm, chỉ định giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị-xã hội ở trung ương, địa phương; người làm việc trong tổ chức cơ yếu; người tham gia lực lượng vũ trang của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải là người chỉ có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam và phải thường trú tại Việt Nam.”
Khoản 11 Điều 1 (bổ sung khoản 2a Điều 26 Luật Quốc tịch Việt Nam), 79/2025/QH15
“Bị hủy bỏ Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, Quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam.”

Chưa tìm thấy câu trả lời?

Tìm văn bản pháp luật theo từ khoá để đối chiếu với tình huống đang gặp.