Chuyển đến nội dung chính
Tư pháp và hộ tịch

Hòa giải thành ở thôn, tổ dân phố có giá trị pháp lý không? Bên kia không thực hiện thì làm thế nào?

Rà soát 20/10/20263 văn bản căn cứ7 đoạn trích nguyên văn

Trả lời nhanh

Có. Các bên có trách nhiệm thực hiện thỏa thuận hòa giải thành, và kết quả đó có thể được Tòa án công nhận khi đủ điều kiện. Văn bản hòa giải không tự động có hiệu lực thi hành như bản án.

Chi tiết

Căn cứ là khoản 1 Điều 25 Luật Hòa giải ở cơ sở 35/2013/QH13. Theo Điều 24, các bên có thể thỏa thuận lập văn bản hòa giải thành, có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên và của hòa giải viên.

Theo Điều 416, Điều 417 Bộ luật Tố tụng dân sự 92/2015/QH13, Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành khi có đủ các điều kiện:

  • Các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự.
  • Các bên có quyền, nghĩa vụ đối với nội dung thỏa thuận; nếu thỏa thuận liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người thứ ba thì phải được người thứ ba đồng ý.
  • Một hoặc cả hai bên có đơn yêu cầu Tòa án công nhận.
  • Thỏa thuận hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba.

Theo Điều 418, đơn phải gửi đến Tòa án trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày các bên đạt được thỏa thuận hòa giải thành. Theo khoản 8, khoản 9 Điều 419, quyết định của Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành có hiệu lực thi hành ngay và được thi hành theo pháp luật về thi hành án dân sự. Việc Tòa án không công nhận không ảnh hưởng đến nội dung và giá trị pháp lý của kết quả hòa giải. Từ ngày 01/03/2027, Luật 35/2013/QH13 hết hiệu lực và được thay bằng Luật Hòa giải ở cơ sở 16/2026/QH16 (Điều 34), trừ vụ, việc chưa kết thúc hòa giải trước ngày đó (khoản 2 Điều 35).

Trích nguyên văn điều luật

Khoản 1 Điều 25, 35/2013/QH13
“1.Các bên có trách nhiệm thực hiện thỏa thuận hòa giải thành.”
Điều 417, 92/2015/QH13
“1.Các bên tham gia thỏa thuận hòa giải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. 2.Các bên tham gia thỏa thuận hòa giải là người có quyền, nghĩa vụ đối với nội dung thỏa thuận hòa giải. Trường hợp nội dung thỏa thuận hòa giải thành liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người thứ ba thì phải được người thứ ba đồng ý. 3.Một hoặc cả hai bên có đơn yêu cầu Tòa án công nhận. 4.Nội dung thỏa thuận hòa giải thành của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba.”
Khoản 1 Điều 418, 92/2015/QH13
“1.Người yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án phải gửi đơn đến Tòa án trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày các bên đạt được thỏa thuận hòa giải thành.”
Khoản 6, 8, 9 Điều 419, 92/2015/QH13
“Việc không công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án không ảnh hưởng đến nội dung và giá trị pháp lý của kết quả hòa giải ngoài Tòa án. ... 8.Quyết định công nhận hoặc không công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án có hiệu lực thi hành ngay, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. 9.Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án được thi hành theo pháp luật về thi hành án dân sự.”
Điều 416, 92/2015/QH13
“Kết quả hòa giải vụ việc ngoài Tòa án được Tòa án xem xét ra quyết định công nhận là kết quả hòa giải thành vụ việc xảy ra giữa cơ quan, tổ chức, cá nhân do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền có nhiệm vụ hòa giải đã hòa giải thành theo quy định của pháp luật về hòa giải.”
Điều 34, 16/2026/QH16
“1.Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 3 năm 2027. 2.Luật số 35/2013/QH13 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 35 của Luật này.”
Khoản 2 Điều 35, 16/2026/QH16
“2.Các vụ, việc thuộc phạm vi hòa giải ở cơ sở chưa kết thúc hòa giải trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì được tiếp tục hòa giải theo quy định của Luật số 35/2013/QH13.”

Chưa tìm thấy câu trả lời?

Tìm văn bản pháp luật theo từ khoá để đối chiếu với tình huống đang gặp.