Chuyển đến nội dung chính
Doanh nghiệp

Doanh nghiệp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trong trường hợp nào?

Rà soát 20/10/20263 văn bản căn cứ4 đoạn trích nguyên văn

Trả lời nhanh

Doanh nghiệp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp khi thuộc một trong các trường hợp tại khoản 1 Điều 212 Luật Doanh nghiệp 59/2020/QH14:

Chi tiết

  • Nội dung kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp là giả mạo.
  • Doanh nghiệp do người bị cấm thành lập doanh nghiệp theo khoản 2 Điều 17 Luật này thành lập.
  • Doanh nghiệp ngừng hoạt động kinh doanh 01 năm mà không thông báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế.
  • Doanh nghiệp không gửi báo cáo theo điểm c khoản 1 Điều 216 trong 06 tháng kể từ ngày hết hạn gửi báo cáo hoặc có yêu cầu bằng văn bản.
  • Trường hợp khác theo quyết định của Tòa án, đề nghị của cơ quan có thẩm quyền theo luật.

Với doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, khoản 8 Điều 60 Nghị định 168/2025/NĐ-CP, bổ sung bởi khoản 3 Điều 11 Nghị định 296/2026/NĐ-CP, quy định thêm một quy trình. Nếu doanh nghiệp không xác nhận tiếp tục kinh doanh trong 05 ngày làm việc kể từ ngày hết hạn tạm ngừng, thì trong 10 ngày làm việc tiếp theo, Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh gửi văn bản yêu cầu báo cáo. Doanh nghiệp không gửi báo cáo trong 06 tháng kể từ ngày hết hạn gửi báo cáo thì bị thu hồi Giấy chứng nhận và phải thực hiện thủ tục giải thể.

Theo khoản 2 Điều 21 Nghị định 296, nghĩa vụ xác nhận này chỉ áp dụng với doanh nghiệp thông báo tạm ngừng kinh doanh từ ngày 23/07/2026.

Trích nguyên văn điều luật

Khoản 1 Điều 212, 59/2020/QH14
“1.Doanh nghiệp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trong trường hợp sau đây: a)Nội dung kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp là giả mạo; b)Doanh nghiệp do những người bị cấm thành lập doanh nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 17 của Luật này thành lập; c)Doanh nghiệp ngừng hoạt động kinh doanh 01 năm mà không thông báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế; d)Doanh nghiệp không gửi báo cáo theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 216 của Luật này đến Cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày hết hạn gửi báo cáo hoặc có yêu cầu bằng văn bản; đ)Trường hợp khác theo quyết định của Tòa án, đề nghị của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của luật.”
Khoản 3 Điều 11, 296/2026/NĐ-CP
“8.Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc thời hạn tạm ngừng kinh doanh đã thông báo, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải xác nhận việc tiếp tục kinh doanh trở lại ... Trường hợp không xác nhận trong thời hạn nêu trên, trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc thời hạn yêu cầu xác nhận nêu trên, Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh gửi văn bản yêu cầu doanh nghiệp báo cáo theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 216 Luật Doanh nghiệp ... Trường hợp doanh nghiệp không gửi báo cáo đến Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày hết hạn gửi báo cáo, Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều 69 Nghị định này. Doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục giải thể theo quy định tại Điều 65 Nghị định này.”
Khoản 2 Điều 21, 296/2026/NĐ-CP
“2.Quy định về xác nhận tiếp tục kinh doanh trở lại khi kết thúc thời hạn tạm ngừng kinh doanh quy định tại khoản 3 Điều 11 Nghị định này được áp dụng đối với doanh nghiệp thông báo tạm ngừng kinh doanh kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành.”
Khoản 7 Điều 69, 168/2025/NĐ-CP
“Sau khi nhận được quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục giải thể theo quy định tại Điều 209 Luật Doanh nghiệp và chấm dứt hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh theo quy định tại Điều 66 Nghị định này.”

Chưa tìm thấy câu trả lời?

Tìm văn bản pháp luật theo từ khoá để đối chiếu với tình huống đang gặp.