Công chức tự nguyện xin thôi việc từ tháng 8/2026 được trợ cấp bao nhiêu?
Rà soát 20/10/20262 văn bản căn cứ7 đoạn trích nguyên văn
Trả lời nhanh
Công chức tự nguyện thôi việc được trợ cấp mỗi năm làm việc bằng một nửa tháng tiền lương, theo Điều 29 Nghị định 300/2026/NĐ-CP (sửa đổi Nghị định 170/2025/NĐ-CP), trừ hồ sơ thuộc diện chuyển tiếp.
Chi tiết
Tiền lương tính trợ cấp là tiền lương tháng liền kề trước khi thôi việc, gồm mức lương theo ngạch, bậc; phụ cấp chức vụ lãnh đạo; phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề và hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có). Người có tổng thời gian công tác từ 06 tháng đến dưới 12 tháng được trợ cấp bằng 01 tháng tiền lương hiện hưởng. Công chức đã có thông báo nghỉ hưu, thuộc trường hợp tinh giản biên chế hoặc buộc thôi việc không thuộc diện hưởng trợ cấp này (Điều 29 Nghị định 300).
Thời gian tính trợ cấp là tổng thời gian có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, đứt quãng thì cộng dồn, chưa nhận trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp phục viên, theo Điều 59 Nghị định 170/2025/NĐ-CP. Thời gian công tác có tham gia bảo hiểm thất nghiệp không tính vào thời gian được chi trả trợ cấp thôi việc từ ngân sách nhà nước mà thực hiện theo pháp luật về trợ cấp thất nghiệp hoặc pháp luật khác có liên quan (Điều 30 Nghị định 300).
Công chức chưa thanh toán xong các khoản tiền, tài sản thì không giải quyết chế độ thôi việc (Điều 28 Nghị định 300). Hồ sơ đã hoàn thiện đầy đủ, trình cấp có thẩm quyền trước ngày Nghị định 300 có hiệu lực (01/8/2026) nhưng chưa có quyết định giải quyết chế độ thì tiếp tục thực hiện theo quy định tại thời điểm hoàn thiện hồ sơ (khoản 4 Điều 35 Nghị định 300).
Trích nguyên văn điều luật
“Đối với trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 56a Nghị định này, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương ... Mức trợ cấp bằng 01 tháng tiền lương hiện hưởng được thực hiện đối với trường hợp có tổng thời gian công tác trước khi thôi việc từ 06 tháng đến dưới 12 tháng. 4.Công chức đã có thông báo nghỉ hưu hoặc thuộc trường hợp tinh giản biên chế hoặc buộc thôi việc theo quy định của pháp luật thì không thuộc trường hợp được hưởng chế độ trợ cấp thôi việc quy định tại khoản 1 Điều này.”
“Thời gian được tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian tính theo năm có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc (nếu thời gian đứt quãng thì được cộng dồn) chưa nhận trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp phục viên”
“Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 8 năm 2026.”
“Trường hợp đã hoàn thiện đầy đủ hồ sơ trình cấp có thẩm quyền trước ngày Nghị định này có hiệu lực nhưng chưa ban hành quyết định giải quyết chế độ đối với công chức tự nguyện thôi việc theo quy định tại khoản 1 Điều 58 Nghị định số 170/2025/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2025 quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức thì được tiếp tục thực hiện theo quy định của pháp luật tại thời điểm hoàn thiện hồ sơ.”
“Tiền lương tháng hiện hưởng là tiền lương tháng liền kề trước khi thôi việc. Tiền lương tháng được tính bao gồm: mức lương theo ngạch, bậc; phụ cấp chức vụ lãnh đạo; phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề và hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có) theo quy định của pháp luật về tiền lương.”
“Trường hợp trước đó có thời gian công tác tham gia bảo hiểm thất nghiệp thì thời gian này không tính vào thời gian công tác được chi trả trợ cấp thôi việc từ ngân sách nhà nước mà thực hiện theo quy định của pháp luật về trợ cấp thất nghiệp hoặc quy định của pháp luật khác có liên quan.”
“Công chức phải hoàn thành việc thanh toán các khoản tiền, tài sản thuộc trách nhiệm của cá nhân đối với cơ quan, tổ chức (nếu có) trước khi thôi việc. Trường hợp không hoàn thành việc thanh toán thì cấp có thẩm quyền vẫn ban hành quyết định thôi việc nhưng không giải quyết chế độ thôi việc; việc xử lý đối với các khoản chưa thanh toán thực hiện theo quy định của pháp luật.”